SMĐH 2010: Đừng vội tin khán giả!

ối nọ bật tivi, nhằm đúng lúc nhà đài đang truyền hình trực tiếp Sao mai điểm hẹn (SMĐH), một cuộc thi ca nhạc xem ra đã có thương hiệu, đã được “mọc mũi sủi tăm” cả chục năm nay trong sự quan tâm của khán giả cả nước – thì thấy xuất hiện trên màn hình một cô ca sỹ – thí sinh với nét mặt buồn buồn đến tội.

Mà tội thật. Sân khấu thì rực rỡ ánh sáng đèn màu. Dưới kia thì đông nghịt người xem, rồi còn triệu cặp mắt nữa đang cùng theo dõi chương trình qua màn ảnh nhỏ. Trong lúc ấy thì cô ca sỹ – thí sinh kia (có thể gọi là tiền ca sỹ cũng được, vì cô đang trên đường phấn đấu để trở thành ca sỹ thực thụ) lại được Hội đồng nghệ thuật thông báo rằng cô đang rơi vào tình huống “nguy hiểm”: Cô có thể bị loại cuộc chơi vì không đủ số lượng tin nhắn bình chọn của khán giả. “Có thể”, bởi “hộp đen” vẫn chưa được mở, tỷ lệ giữa bị loại và đi tiếp là 50 – 50.
Mà cũng vì là “có thể” nên một vị trong Hội đồng nghệ thuật lên tiếng đề nghị cô có lời xin lỗi những khán giả đã gửi tin nhắn bình chọn cho cô, lý do là nếu cái “có thể” đen đủi kia trở thành sự thật thì không gì khác cô đã phụ lòng những khán giả yêu mình. Một “chiêu” tạo kịch tính cho chương trình của Hội đồng nghệ thuật. Cũng là “chiêu” khiến cô ca sỹ – thí sinh mất tự tin gấp đôi.
Dường như chẳng còn mấy hy vọng vào khả năng được đi tiếp của mình, thay vì lời xin lỗi khán giả, cô nói với ít nhiều hờn dỗi, đại ý: Cô đã làm hết sức, giờ đây mọi việc phụ thuộc vào khán giả, xin khán giả hãy sáng suốt, khách quan để gửi tin nhắn bình chọn cho những thí sinh thực sự có năng lực. Xem đến đây, vừa thấy tội cho cô ca sỹ – thí sinh trước màn “đùa dai” của vị Hội đồng nghệ thuật nọ, vừa thấy…buồn cười vì niềm tin ngây thơ mà cô đặt vào sự “sáng suốt, khách quan” của khán giả. Xin được nói ngay: Đừng vội tin khán giả!
Vì sao? Vì “khán giả”, hai chữ ấy thực tế trỏ một đám đông hỗn tạp đủ các lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ, sở thích. Trong đó chỉ có một nhúm người “có nghề” – trong trường hợp này tức là người có hiểu biết âm nhạc tốt, có khả năng cảm thụ âm nhạc cao và do đó có thể có đánh giá tương đối chính xác về các thí sinh – còn lại là một khối tù mù, bùng nhùng về nhạc, và hẳn không thiếu những người nghe nhạc tréo ngoe theo kiểu “xem hoa ta chỉ xem bằng mũi” (thơ Nguyễn Khuyến). Mối tương quan giữa số ít và số nhiều.Cái số nhiều ấy, cái “đám đông” ấy – theo sự phân tích lạnh lùng của nhà tâm lý học Gustave Le Bon, từ năm 1905, nhưng đến bây giờ xem ra vẫn đúng – là một thực thể thụ động, đầy tình cảm, dễ bị kích động, dễ bị lây nhiễm, cần được “định hướng”.



Hà Hoài Thu khóc khi bị loại

Từ các số nhiều ấy, từ cái “đám đông” như vậy mà ta có thể hình dung ta việc gửi tin nhắn bình chọn của họ theo mấy kịch bản sau: Một là, họ tìm gợi ý từ những nhận xét của Hội đồng nghệ thuật về phần thể hiện của các thí sinh. Hai là, họ theo dõi cánh phóng viên văn nghệ của báo giấy, báo mạng đánh giá thế nào về từng ca sĩ dự thi. Ba là, họ tự “lắng nghe lời mách bảo của trái tim mình”. Kịch bản thứ nhất có vẻ khó thực hiện được, vì những người cầm cân nảy mực về mặt chuyên môn của cuộc thi hình như sợ bị mang tiếng thiên lệch nên chẳng mấy khi dám nói thẳng rằng thí sinh A xuất sắc hơn thí sinh B, cứ nghe Hội đồng “phán” thì sẽ thấy ngay sự hiển hiện một thứ chủ nghĩa tương đối có tác dụng rất tốt trong việc làm khán giả thêm hoang mang khi bình chọn.
Kịch bản thứ hai khả thi hơn, nhưng làm theo kịch bản này thì thật ra chẳng khác mấy việc khán giả tự “lắng nghe lời mách bảo của trái tim mình”, vì phần đông cánh phóng viên văn nghệ cũng tù mù, bùng nhùng về nhạc như họ. Vậy thì hãy nghe trái tim nói gì. Trong trường hợp này, diễn đạt cho đúng thì căn cứ đầu tiên của việc gửi tin nhắn bình chọn sẽ là…con mắt nhìn; anh ấy, chị nọ có xinh trai, đẹp gái không, trang phục có gợi cảm không, nhảy múa có hấp dẫn không?
Thứ đến mới là cái tai nghe, đã thành nếp thành rãnh trong thói quen thưởng thức; thứ gì lạ tai, trượt ra khỏi những nếp, những rãnh âm nhạc ấy rất dễ bị bỏ qua. Điều đó có lẽ đủ sức giải thích cho một thực tế nhãn tiền: ca sĩ – thí sinh nào có năng lực, có bản lĩnh, có ý chí muốn thể hiện một các tôi khác biệt trong nghệ thuật bằng cách đi vào những con đường ít người đi, hoặc những con đường chưa từng ai khai phá – chính bằng cách đó họ tạo ra “khoảng cách thẩm mỹ” với thói quen tiếp nhận của số đông – thường bị loại khá sớm. Nếu thí sinh đó, rủi thay, không vào loại “bắt mắt”, nguy cơ bị loại sớm sẽ tăng gấp đôi.
Cuộc chơi này, cũng giống như nhiều cuộc chơi khác, là thế. Luật chơi là thế, chẳng có gì để trách cứ những người tổ chức. Thời buổi văn hóa đại chúng lên ngôi, cái gì cũng phải lấy sự phê chuẩn của số đông làm thước đo lớn nhất, người tổ chức chương trình truyền hình buộc phải tìm cách hút khán giả đến với mình, càng nhiều càng tốt. Vì thế dễ hiểu tại sao họ thiết kế một cơ chế tôn khán giả – chứ không phải các chuyên gia – vào vị trí của kẻ xác lập các giá trị. Cũng chẳng nên trách cứ khán giả. Khá giả – đám đông là vậy, họ sáng suốt, khách quan theo cách của họ, và luật chơi cho họ cái quyền tuyệt đối để thể hiện sự “sáng suốt, khách quan” ấy. Có trách chăng là trách những ca sĩ – thí sinh đã lên tiếng hờn dỗi, giận lây khán giả.

Lan Trinh cũng rời khỏi cuộc đua

Thí sinh có hai sự lựa chọn: Một là, nếu không muốn mình trở thành vật ngắm nhìn và chịu sự phán quyết của những khán giả không có chuyên môn, anh ta không nên tham gia cuộc thi. Hai là, nếu đã chấp nhận “chơi” thì cũng phải biết vui vẻ chấp nhận luật chơi, vui vẻ chấp nhận phẩm chất “sáng suốt, khách quan” của một ban giám khảo là khán giả – đám đông. (Muốn là người thắng cuộc, chớ dại mà làm những gì quá lạ lẫm với khán giả, chớ dại mà tự biến mình thành chuột bạch cho những thí nghiệm nghệ thuật mới toanh – ở đây không phải chỗ – hãy phục vụ khán giả những món ăn quen với chất lượng tốt nhất).
Tóm lại, thắng không kiêu, thua không nản, bị loại cũng không nên đánh mất quyền kiêu hãnh, điều đó cần phải trở thành niềm tin thường trực ở những người đã đồng ý tham dự một cuộc thị mà sự hiện diện của giám khảo chỉ là những tin nhắn được gửi đi từ điện thoại di động. Nói theo một cách khác: đừng vội tin vào khán giả!
Nói vậy hẳn sẽ không ít người phản đối: không tin vào khán giả thì tin vào ai? Thì đúng thế, người ta vẫn chẳng bảo: cùng với thời gian thì công chúng chính là giám khảo chính xác nhất, công minh nhất là gì? Nhưng xin hãy thử nhìn vào một vài thực tế và lấy đó làm ví dụ phản chứng. Trong điện ảnh chẳng hạn, nhiều bộ phim thuộc dòng phim tác giả, nếu chỉ căn cứ vào khán giả – tức là căn cứ vào số buổi chiếu, số lượng vé bán ra – thì đó là những tác phẩm điện ảnh đáng vứt đi, vì nó bị khán giả ghẻ lạnh đến thảm hại.(May thay, những người làm phim dám dấn thân với phim tác giả biết quá rõ chuyện này và làm phim tác giả, cái họ cần là sự thừa nhận của giới chuyên môn chứ không phải sự tung hô của đám đông).
Trong hội họa, hãy coi chừng việc công chúng đổ xô đi mua tranh của những họa sỹ thuộc vào hàng ăn khách. Chẳng gì khác, đó là họ mua cái quen mắt, mua sự yên ổn về thẩm mỹ nhìn, và bằng hành động này họ biến họa sỹ (có thể là người rất có tài) thành kẻ bảo thủ khủng khiếp: anh ta lê lết kéo dài đời sống của một phong cách đã cũ, không dám tự phủ định mình, không dám tự dấn thân tìm kiếm mình trên những hành trình mới của nghệ thuật.

Hội đồng nghệ thuật của Sao Mai điểm hẹn

Trong văn chương cũng tương tự như vậy: chẳng phải trước khi trở thành cổ điển thì tập thơ “Những bông hoa của cái ác” của Baudelaire và tiểu thuyết “Bà Bovary” của Flaubert đã bị đám đông công chúng la ó rầm trời đó sao? Vì nó mới quá, nó vượt quá xa cái ngưỡng tiếp nhận đã trở nên quen mòn của họ. (Tuy nhiên ở nghệ thuật này có một điểm hơi khác: nhiều tác giả vào loại “đại gia”, có lượng bạn đọc đông đảo, và bằng uy tín của mình họ có thể “kéo” lượng bạn đọc ấy theo những cách tân nghệ thuật táo bạo mà không hề lo sợ sẽ rơi vào cảnh chợ chiều hiu hắt. Milan Kundera là một trong những trường hợp như vậy, hạnh phúc thay!).
Ví dụ cuối cùng, hãy lấy từ chính âm nhạc: giả định có một cuộc thi hát thính phòng trên truyền hình và kết quả cuộc thi phụ thuộc hoàn toàn vào sự bình chọn của khán giả, nên tin rằng số lượng khán giả hưởng ứng cuộc thi đó sẽ là cực thiểu. Vì sao vậy? Vì đây là một nghệ thuật “dở ẹc” chăng, hay là vì nó là thứ nằm ngoài tầm với của một đám đông khán giả được trang bị hết sức sơ sài – nếu không muốn nói là không được trang bị gì hết – về âm nhạc? Hỏi chỉ để mà hỏi, vì câu trả lời thì dường như ai nấy đều đã biết.
Vài ví dụ kể trên có lẽ là đủ để thấy việc chưa tin vào khán giả không phải là không có cơ sở. Xin nhắc lại, khán giả – người thưởng thức ở mọi loại hình nghệ thuật bao giờ cũng gồm một nhúm những người “có nghề” và một đám đông thụ động, cảm tính. (Người “có nghề” trong lĩnh vực này rất có thể sẽ bị lẫn vào đám đông ở lĩnh vực kia, đó là chuyện thường gặp). Chính những người “có nghề” ấy mới là thước đo đáng tin, là bộ phận khán giả cần phải chinh phục nếu người nghệ sỹ muốn biết năng lực nghệ thuật thực sự của mình đến đâu.
Còn khán giả – đám đông có lẽ chỉ có ý nghĩa nhất định nào đó khi người làm nghệ thuật đặt mục tiêu lớn nhất cho mình là mở rộng thị trường hoặc phục vụ tuyên truyền. Lenin từng viết, đại ý: "Trong nghiên cứu khoa học và trong sáng tạo nghệ thuật không thể tìm ra các chân lý giá trị bằng con đường phổ thông đầu phiếu. Tức là số đông không hề đồng nghĩa với một quy chiếu giá trị chuẩn". Tức là, nói trong khuôn khổ của vấn đề đang bàn: đừng vội tin vào khán giả!

Bạn có thích bài viết này không?